đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền

Những Điểm sáng kinh tế tài chính cơ bản cùng địa vị lịch sử dân tộc của chủ nghĩa tư bản độc quyền bao hàm biểu lộ bắt đầu sau: Những Điểm lưu ý kinh tế cơ phiên bản của nhà nghĩa bốn bạn dạng độc quyền, vị thế lịch sử của công ty nghĩa tư bạn dạng độc quyền. Để hiểu rõ hơn mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.




You watching: đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền

*

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CƠ BẢN VÀ ĐỊA VỊ LỊCH SỬ CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn tự do cạnh tnhãi, C.Mác, Ăng ganh đã chỉ ra rằng: tự do cạnh tranh đẻ ra tích tụ và tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuất phát triển tới một mức độ nhất định lại dẫn tới độc quyền. Sống vào thời kỳ chủ nghĩa bốn phiên bản độc quyền, vận dụng sáng chế các nguyên lý của nhà nghĩa Mác vào điều kiện lịch sử lúc new, V.I.Lênin đã chứng minh rằng, chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn mới – giai đoạn độc quyền (chủ nghĩa đế quốc). Đồng thời, Người đã phân tích rõ những đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền. Tuy nhiên, trải qua gần một thế kỷ qua, dưới sự tác động của cách mạng khoa học – công nghệ đã làm cho những đặc điểm đó có những biểu hiện new. I. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN 1. Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền a) Tập trung sản xuất. Tập trung sản xuất là tăng thêm quy mô của sản xuất bằng cách kết hợp nhiều xí nghiệp nhỏ thành xí nghiệp lớn. Tập trung sản xuất là vấn đề có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất mập. Nhưng chỉ đến cuối thế kỷ XIX thì quá trình tập trung sản xuất ở các nước tư bản chủ nghĩa mới diễn ra mạnh mẽ. Đó là do các nguyên nhà yếu sau: một là, do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, một mặt đòi hỏi phải có sự tích tụ và tập trung tư bạn dạng, phương diện khác đã thúc đẩy sản xuất phát triển tạo ra năng xuất lao động cao nên bóc lột được nhiều giá trị thặng dư, dẫn đến tích luỹ tư bản tăng, do đó tích tụ và tập trung tứ phiên bản tăng; hai là, sản xuất phát triển làm cho cạnh tranh tự do diễn ra mạnh mẽ thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất tăng lên; ba là, do tác động của khủng hoảng kinh tế trong các nước tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng 1873, 1900 – 1913 góp phần đẩy nhanh quá trình tập trung sản xuất; bốn là, do sự ra đời của hệ thống tín dụng tư bản chủ nghĩa đã góp phần thúc đẩy tích tụ, tập trung tư bản, do đó tạo điều kiện cho tập trung sản xuất tăng nhanh hao. Do sự tác động của các nguyên nhân trên làm cho quá trình tập trung sản xuất diễn ra mạnh mẽ. Đến lượt nó sự tập trung sản xuất tới mức độ nhất định đã dẫn tới độc quyền. Bởi bởi vì, một phương diện, quy mô to lớn của các xí nghiệp làm cho cạnh tranh trở lên gay gắt rộng, từ đó nảy sinh khuynh hướng thoả hiệp, liên minh với nhau làm cho số lượng xí nghiệp trong mỗi ngành ít đi; mặt khác, do trong mỗi ngành chỉ còn lại một số ít các xí nghiệp lớn nên chúng có thể dễ dàng thoả thuận với nhau để độc quyền về giá thiết lập, giá buôn bán, thị ngôi trường. Từ đó hình thành nên các tổ chức độc quyền. b) Tổ chức độc quyền Tổ chức độc quyền là tổ chức liên minh giữa những nhà tư bản dưới những hình thức khác nhau, nắm phần lớn việc sản xuất và tiêu trúc một số loại hàng hoá nào kia, nhằm mục đích thu lợi nhuận độc quyền cao. vì thế, đến giai đoạn đế quốc công ty nghĩa, độc quyền là cửa hàng, tế bào kinh tế của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Độc quyền tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ lưu thông đến sản xuất, từ một ngành đến nhiều ngành. Các ten là hình thức đầu tiên của độc quyền. Các nhà tư bản tham gia các ten chỉ liên minh và ký kết hiệp định để thoả thuận với nhau về giá cả, về kỳ hạn trả chi phí, về phân chia thị phần tiêu thụ và về khối lượng hàng hoá bán ra trên thị trường, vì vậy họ vẫn độc lập về sản xuất và thươ ng nghiệp. Xanhđica là hình thức tổ chức độc quyền cao rộng, ổn định hơn cácten. Những người tham gia xanhđica vẫn độc lập về sản xuất, nhưng việc mua bán hàng hoá do một ban quản trị chung c ủa xanhđica đảm nhiệm. Tờ rớt là hình thức tổ ch ức độc quyền cao hơn xanhđica, nó thực chất là công ty cổ ph ần, vì vậy, ngườ i tham gia t ờr ớt m ất độ c lập về sản xuất và thươ ng nghiệp, h ọ tr ở thành cổ đông và thu lợi tức cổ ph ần. Còn toàn bộ quá trình sản xuất và tiêu thụ sản ph ẩm do m ột ban qu ản tr ị chung th ống nh ất điề u hành. Côngxoócxiom là hình thức tổ chức độc quyền đa ngành thườ ng tồn tại dướ i dạng một hiệp định ký kết giữa một số ngân hàng hoặc công ty công nghiệp để cùng nhau tiến hành các nghiệp vụ tài chính lớn do một tập đoàn tài chính điề u hành và khống chế. Với các hình thức tổ chức độc quyền bên trên, độ c quyền đi vào mọ i ngành, đa số lĩnh vực sản xu ất kinh doanh. Nó nắm hầu hết các mạch máu kinh tế nên có mức độ mạnh rất to lớn. Nh ờ n ắm đượ c địa vị thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu giữ thông, các tổ chức độc quyền có khả năng định ra giá cả độ c quyề n, qua đó thu lợi nhuận độc quyền. Vì vậy, trong giai đoạn nhà nghĩa tứ bản độ c quyền, quy lu ật giá trị biểu hi ện thành quy luật giá cả độc quyền, còn quy luật giá trị thặng dư biểu hiện thành quy luật l ợi nhuận độc quyền. Độ c quyền ra đời từ bỏ cạnh trực rỡ, đố i lậ p với cạnh trỡ, nh ưng v ẫn không thủ tiêu đượ c cạnh tranh t ự do, trái lại còn làm cho cạnh tranh thêm gay gắt. Trong giai đoạn độc quyền còn có các loại cạnh toắt sau: ­ Cạnh tranh gi ữa các tổ chức độc quyền với các xí nghiệp ngoài độ c quyề n bằng rất nhiều th ủ đoạn khác nhau như: tìm mọi cách để độ c quyề n về nguyên liệu, lao hễ, phươ ng tiện giao thông, tín dụng, thị tr ườ ng tiêu thú, giá cả; dùng các biện pháp ám sát kỹ sư, chuyên gia xuất sắc, ăn cắp kỹ thuật và bí quyết công nghệ. ­ Cạnh tranh gi ữa các tổ chức độc quyền với nhau. ­ Cạnh tranh gi ữa các xí nghiệp, công ty trong n ội bộ độ c quyền. do vậy, độc quyền sinh ra t ừ c ạnh trỡ, đối lập với cạnh tranh con, nh ưng không thủ tiêu đượ c cạnh trỡ ràng, trái lại còn làm cho cạnh tranh thêm gay gắt, tạo thành một cơ chế hỗn h ợp gi ữa độ c quyền và cạnh tranh mãnh. c) Biểu hiện m ới c ủa độc quyền Kể tự sau chi ến tranh th ế gi ới l ần th ứ nhì, độ c quyền đã có những biểu hiện nay mới cả về hình thức, cơ cấu và cơ chế. Về hình thức: do sự phát triển của lực lượ ng sản xu ất và sự tác đọ ng của cách mạng khoa học ­ công nghệ, đã diễn ra quá trình hình thành sự liên kết giữa các độc quyền theo c ả hai đưa ra ều: d ọc và ngang làm việc cả trong và ngoài nướ c. Từ đó dẫn đến sự ra đời hầu như hiệ tượng tổ chức triển khai độ c quyề n bắt đầu. Đó là các consơn(concern) và các côngơlômêrết (conglomerate). ­ Consơn: là tổ chức độc quyền đa ngành và thành phần của nó có hàng trăm xí nghiệp có quan hệ với các ngành khác nhau và được phân ba sinh sống nhiều nước. Trong số 500 công ty lớn nhất của mỹ hiện nay có tới 94% là loại consơn so với 49% năm 1949. Nguyên nhân nhà yếu dẫn đến độc quyền đa ngành là do: Một phương diện, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chức độc quyền thì việc kinh doanh chuyên môn hoá hẹp dễ bị phá sản; trái lại việc kinh doanh tổng hợp tạo điều kiện di chuyển vốn vào rất nhiều lĩnh vực có lợi nhuận cao, lấy lãi ở ngành hàng này bù cho những ngành hàng khác gặp khó khnạp năng lượng. Mặt khác, do tác động của cách mạng khoa học ­ công nghệ ngày càng làm cho tứ bản nỗ lực định bị hao mòn nkhô giòn, một số ngành nhanh chóng trsống nên lạc hậu. Do vậy, trong khi chưa giải toả được những ngành lạc hậu, để tồn tại vẫn phải phát triển thêm những ngành mới, tự đó làm cho cơ cấu của tập đoàn phình to ra và bao gồm nhiều ngành khác nhau. Conglomerate: là hình thức tổ chức độc quyền xuất hiện từ những năm 1960. Đó là sự kết hợp của vài ba chục hàng vừa và nhỏ không có bất kỳ sự liên quan nào về sản xuất hoặc dịch vụ cho sản xuất. Mục đích chủ yếu của các côngơlômêrết là chiếm đoạt lợi nhuận bằng kinh doanh chứng khoán. Về cơ cấu: cũng do sự tác động của cách mạng khoa học ­ công nghệ, cơ cấu độc quyền có sự thay thay đổi. Đó là sự liên kết của các hãng vừa và nhỏ dại với các hãng sản xuất lớn trong một tổ chức độc quyền. Chẳng hạn, vào những năm 1990, số hãng vừa với nhỏ chiếm hơn 90% tổng s ố hãng có đăng ký ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển và ngày càng có vai trò quan trọng trong n ền kinh t ế. Về cơ chế: cơ chế độc quyền ngày càng bị chi phối bởi cơ chế thị trường cạnh tranh và chế độ điều tiết của công ty nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Bằng các thiết yếu sách điều tiết đã làm giảm hiệu lực của cơ chế độc quyền, buộc nó phải tuân thủ cơ chế cạnh trỡ. Tuy nhiên, đối với các độc quyền xuyên quốc gia thì hiệ tượng này trong chừng mực vẫn còn phát huy tác dụng. Độc quyền cũng xuất hiện ở cả những nước đang phát triển. Đó là kết quả của quá trình quốc tế hoá được đẩy mạnh với sự thâm nhập mạnh mẽ của công ty xuyên quốc gia vào các nước này, sự ứng dụng những thành tựu của cách mạng khoa học ­ công nghệ hiện đại, sự hỗ trợ của nhà nước khiến cho năng lực sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp tăng lên, trở thành những tổ chức độc quyền. 2. Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chủ yếu a) Độc quyền ngân hàng và vai trò mới của ngân hàng Cùng với sự xuất hiện của độc quyền trong công nghiệp là sự ra đời của độc quyền trong ngân hàng. Độc quyền ngân hàng xuất hiện là do sự tác động của các nguyên nhân chủ yếu sau: Một là, khi độc quyền công nghiệp xuất hiện nay, nó cần phải có một số vốn rất lớn để kinh doanh, đồng thời khối lượng tiền tệ đem gửi cũng rất lớn, do đó các ngân sản phẩm bé dại không đầy đủ khả năng đáp ứng nhu cầu nhận gửi và cho vay của độc quyền công nghiệp. Vì vậy, quá trình tập trung sản xuất trong lĩnh vực ngân hàng cũng diễn ra. Hai là, do sự tác động của cạnh tranh khốc liệt trong lĩnh vực ngân hàng đã dẫn đến kết quả là các ngân hàng lớn thôn tính các ngân hàng nhỏ tuổi, hoặc biến các ngân hàng nhỏ thành chi nhánh của các ngân hàng lớn. Từ các ngân hàng lớn lại liên kết với nhau thành những ngân hàng lớn hơn và theo đó là sự hình thành nên các tổ chức độc quyền trong ngân hàng. Độc quyền ngân hàng là sự liên minh của các tứ bản ngân hàng nhằm chi păn năn, khống chế các nghiệp vụ ngân hàng để thu lợi nhuận độc quyền cao. Khi độc quyền ngân hàng ra đời, vai trò của ngân hàng có sự thay thay đổi. Từ chỗ, trước đây chỉ đóng vai trò trung gian giữa người đi vay và người cho vay mượn, phụ thuộc vào tư bản công nghiệp. Đến nay, độc quyền ngân hàng trở thành kẻ có quyền lực vạn năng, có thể kiểm soát chi phối và quyết định số phận của tư bản công ­ thương nghiệp, quan hệ gắn bó chặt chẽ với tư bản công nghiệp thông qua việc thâm nhập lẫn nhau giữa độc quyền ngân hàng và độc quyền công nghiệp. Sự thâm nhập này được tiến hành bằng hai biện pháp. ­ Độc quyền ngân hàng bỏ tiền ra mua cổ phiếu phát hành của các tổ chức độc quyền công nghiệp và ngược lại độc quyền công nghiệp cũng bỏ tiền ra mua cổ phiếu của độc quyền ngân hàng để đưa người vào các ban quản trị của nhau. ­ Độc quyền ngân hàng thành lập các xí nghiệp công nghiệp, ngược chở lại độc quyền công nghiệp cũng từ thành lập các ngân hàng riêng rẽ. Kết quả của sự thâm nhập vào nhau đó đã dẫn tới sự ra đời của loại tư bản mới về chất ­ đó là tư bản tài thiết yếu. b) Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài bao gồm Tư bản chính là kết trái của sự hợp nhất giữa tư bản ngân hàng của một số ít ngân hàng độc quyền lớn nhất với tư bản của những liên minh độc quyền các nhà công nghiệp. Tư bản tài chính là một loại tứ bản mới về chất riêng có của giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, nó phản ánh trình độ phát triển cao của chủ nghĩa tư bản độc quyền; đồng thời tư bản tài chính không tồn tại dưới hình thức riêng lẻ, kinh doanh đơn ngành, mà tồn tại trên cơ sở các tập đoàn tài chính kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực. Ví dụ: Mỹ có khoảng 26 tập đoàn tài chính; Pháp 9; Nhật và Đức 6. Sự phát triển của tư bản tài chính dẫn đến sự hình thành một nhóm nhỏ độc quyền chi phối tuyệt đại bộ phận của cải của xã hội, thống trị toàn bộ đời sống kinh tế và chính trị của các nước tư bản gọi là bọn đầu sỏ tài chính hay còn gọi là bọn tài phiệt. Về kinh tế, bọn đầu sỏ tài chính thiết lập sự thống trị của mình thông qua chế độ tham dự. Tức là tư bản tài chính thông qua việc dùng cổ phiếu khống chế nhằm chi phối xâu chuỗi các công ty từ một công ty gốc( công ty mẹ). Thực chất của chính sách tham dự là các tập đoàn tài chính mà đứng đầu là lũ đầu sỏ tài chính thông qua ngân hàng khống chế để mua cổ phiếu khống chế của một công ty lớn nhất với t ư cách là công ty gốc hay là “công ty mẹ”; công ty gốc này lại mua cổ phiếu khống chế nhằm thống trị công ty khác gọi là “công ty con”; công ty con đến lượt nó cũng bằng phương pháp như vậy lại chi phối “công ty cháu”…cứ như vậy từ một công ty cội, tập đoàn tài chính đã thống trị xâu chuỗi đượ c các công ty trong phạm vi toàn cỗ nền kinh tế. Nhờ có chính sách tham dự và phương pháp tổ chức tập đoàn theo kiểu móc xích như vậy, bằng một lượng tư bản đầu bốn nhỏ dại, tư bản tài chính có thể khống chế và điều tiết một lượng tư bản lớn g ấp nhiều l ần. Ngoài phương thức trên, bọn đầu sỏ tài chính còn sử dụng các thủ đoạn khác để thống trị như: chế độ uỷ nhiệm; lập công ty mới; phát hành trái khoán; kinh doanh công trái; đầu tư chứng khoán ở sở giao dịch, đầu cơ ruộng đất… để thu lợi nhuận độc quyền cao. Về mặt chính trị, bọn đầu sỏ tài chính chi phối mọi hoạt động của các cơ quan lại nhà nước bao gồm cả đường lối đối nội và đường lối đố i ngoại biến nhà nước trlàm việc thành công cụ phục vụ cho bọn chúng. Dưới sự thống trị của bọn tài phiệt đã làm nảy sinh chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa quân phiệt và nhiều sản phẩm nhà nghĩa phản động khác, cùng chạy đua vũ trang gây chiến tranh xâm lược để áp bức, bóc lột các nước đang phát triển. c) Biểu hi ện m ới c ủa t ư b ản tài thiết yếu Do sự phát triển mạnh mẽ c ủa cách mạng khoa h ọc­ công nghệ, trong n ền kinh tế các nướ c tư bản công ty nghĩa đã xuất hiện nhiều ngành kinh tế bắt đầu, đặ c biệ t là những ngànhthuộc lĩnh vực dịch vụ, bảo hi ểm. Thích ứng với sự biến đổ i đó, hình thứctổ chức và hiệ tượng thống tr ị của t ư b ản tài chính đã có sự thay đổ i. Phạ m vi liên kết và thâm nhập vào nhau đượ c mở rộng ra nhi ều ngành, do đó các tập đoàn tứ bản tài chính thườ ng tồn t ại d ưới d ạng m ột t ổ h ợp đa dạng kiểu công ­ nông ­ thươ ng ­ tín ­ dịch v ụ hay công nghiệp ­ quân sự ­ dịch v ụ quốc phòng. Sự thống tr ị đa ngành đã biến các tập đoàn tư bản tài chính gia đình trướ c đây thành các tập đoàn tài chính theo địa phươ ng và vùng lãnh thổ như: tập đoàn tài chủ yếu vùng Đông­Bắc; vùng Trung­Tây(Mỹ) vùng Kansai(Nh ật), vùng Hămbua(Đức)... Để vươ n ra thị tr ườ ng th ế gi ới và thích hợp ứng với xu cầm cố toàn cầu hoá kinh tế , các tập đoàn tư bản tài chínhđã thành lập các ngân hàng đa quốc gia và xuyên quốc gia nhằm điều tiết các concern và thâm nhập vào nền kinh tế các quốc gia không giống. Sự ra đời các trung tâm tài chính thế gi ới thu ộc các nướ c bốn bản phát triển nlỗi Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp... và ngơi nghỉ các nướ c công nghiệp mới Hàn Quốc, Singapo...là kế t quả hoạt động của các tập đoàn tài chính quốc tế. Ngày nay bốn bản tài chính không chỉ có vai trò to lớn trong nền kinh t ế th ế gi ới mà còn thao túng cả lĩnh vực chính trị, vấn đề chiến tranh­hoà bình, môi trườ ng sinh thái. 3. Xuất khẩu tư bản a) Bản chất và nguyên nhân của xuất khẩu tư bản Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị hay đưa “tư bản thừa” của các tổ chức độc quyền hay của nhà nước tư sản ra nước ngoài nhằm mục đích bóc lột giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác ở nước nhập khẩu tư bản. Tư bản “thừa” ở đây là thừa “tương đối”, nghĩa là không phải thừa so với nhu cầu phát triển chung của nền kinh tế trong n ước, mà là thừa do các lĩnh vực đầu tư trong nước không thể mang lại lợi nhuận cao cho các chủ đầu tư tư bản, nên cần có nơi đầu tư để đem lại lợi nhuận cao rộng. Đặc điểm điển hình của nhà nghĩa tứ bản tư do cạnh tranh là xuất khẩu sản phẩm hoá, còn đặc điểm điển hình của nhà nghĩa tứ bản độc quyền là xuất khẩu tư phiên bản. Do vậy, xuất khẩu tư bản khác về chất so với với xuất khẩu hàng hoá. Xuất khẩu tứ bản là nhằm mục đích bóc lột giá trị thặng dư, là sự “ăn bám bình phương”; còn xuất khẩu hàng hoá là nhằm thực hiện giá trị và giá trị thặng dư đã đượ c sản xuất ở trong nước.

See more: Tổng Hợp Các Giải Bóng Đá Lớn Trên Thế Giới Nên Xem? Các Giải Bóng Đá Lớn Trên Thế Giới Hiện Nay



See more: Bản Đồ Và Danh Sách Các Tỉnh Miền Bắc Có Bao Nhiêu Tỉnh Thành

Vào cuối cố gắng kỷ XIX đầu nỗ lực kỷ XX, xuất khẩu tư bản trở thành thịnh hành ở các nước tư bản là do các nguyên nhân cơ bản sau đây: Một là, do ở một số nước tư bản độc quyền đã tích luỹ được một khối lượng tư bản kếch sù dẫn đến hiện tượng “thừa” tứ bản do không tìm được nơi đầu tư có tỷ xuất lợi nhuận cao trong nước. Hai là, do một số nước kinh tế kém phát triển bị lôi cuốn vào sự giao lưu kinh tế quốc tế, nhưng lại rất thiếu tư phiên bản. Đồng thời, ở các nước này giá ruộng khu đất, nguyên liệu, nhân công lại tương đối rẻ nên có tỷ suất lợi nhuận cao. b) Các hình thức xuất khẩu tư bản và hậu quả của nó Xuất khẩu bốn bản tồn tại dưới rất nhiều hình thức, tuy theo góc độ xem xét, có thể phân chia xuất khẩu tư bản thành các loại hình chủ yếu sau: + Xét về cách thức đầu bốn, có đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. ­ Đầu tư trực tiếp là hình thức xuất khẩu tư bản để xây dựng những xí nghiệp mới hoặc mua lại những xí nghiệp đang hoạt động ở nước nhận đầu tứ, biến nó thành công ty con của công ty mẹ, các xí nghiệp mới được hình thành thường tồn tại bên dưới dạng tất cả hổn hợp tuy vậy phương hoặc đa phương thơm, hoặc doanh nghiệp lớn 100% vốn nước ngoài. ­ Đầu tứ gián tiếp là hình thức xuất khẩu bốn bản dưới dạng cho vay t ư b ản tiền tệ để thu lãi. Thông qua các ngân hàng tư nhân hoặc các trung tâm tín dụng quốc gia và quốc tế. Ngày ni, hình thức này còn đượ c thực hiện bằng hình thức muc trái khoán hay cổ phiếu của các công ty ở nước nhập khẩu tư bạn dạng. Xét theo chủ sở hữu có xuất khẩu tư bản nhà nước và xuất khẩu tư bản tư nhân. Xuất khẩu bốn bản nhà nước là hình thức xuất khẩu bốn bản do nhà nước tiến hành. Tư bản xuất khẩu lấy trường đoản cú ngân quỹ của nhà nước đem đầu tư vào nước nhập khẩu tư bản, hoặc viện trợ hoàn lại hay không hoàn lại để thực hiện những mục tiêu kinh tế, chính trị và quân sự: Về kinh t ế, xu ất kh ẩu t ư b ản nhà nướ c thườ ng h ướ ng vào các ngành thuộ c kế t cấu h ạ tầng để tạ o môi trườ ng thuận l ợi cho đầ u tư củ a tứ bả n tư nhân. Về chính trị, xuất khẩu tứ bản nhà nước thường nhằm cứu vãn chính sách chính trị thân cận đang bị lung lay hoặc tạo ra mối liên hệ prúc thuộc lâu dài của nước nhập khẩu vào nước xuất khẩu. Về quân sự, nhằm lôi kéo các nước nhập khẩu phụ thu ộc vào các khối quân sự, hoặc buộc các nước này phải đưa quân tham chiến các nước khác, hoặc cho nước xuất khẩu lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ của bản thân. Xuất khẩu tư bản tư nhân là hình thức xuất khẩu tư bản do tư bản tư nhân thực hiện tại. Ngày ni, hình thức này có xu hướng tăng nkhô hanh, chiếm phần trăm cao trong tổng tư bản xuất khẩu và chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia tiến hành thông qua hoạt động đầu tưư kinh doanh. Nó thường hướng vào các ngành có vòng quay tư bản ngắn và thu được lợi nhuận độc quyền cao. Xét về cách thức hoạt cồn, có hoạt động cắm nhánh của các công ty xuyên quốc gia, hoạt động tài chính tín dụng của các ngân hàng hay trung tâm tín dụng và chuyển giao công nghệ, trong đó hoạt động dưới hình thức chuyển giao công nghệ là biện pháp chủ yếu mà các nước xuất khẩu tư bản thường xử dụng để khống chế nền kinh tế của nước nhập khẩu. Xuất khẩu tư bản có vai trò mang tính hai mặt đối với cả nướ c xuất và nướ c nhập khẩu tư bản. Đối với nướ c xuất khẩu: Một m ặt, tìm đượ c nơi đầ u tư có lợi, xuất đượ c những tứ liệu sản xu ất đã lạc hậu hoặc sắp phải thay thế trong quá trình đổi mới công nghệ, tìm kiếm đượ c thị trườ ng và nguồn nguyên liệ u phục vụ cho nền kinh tế trong n ước, khai thác đượ c các nguồn lợi không giống ở nướ c nhập khẩu và gây đượ c ảnh hưởng về kinh tế, chính trị, xã hội đố i với nước nhập khẩu. Mặt khác, xuất khẩu t ư b ản làm cho đầu bốn trong n ước h ạn chế đi một phần, nếu đi quá giới hạn, xu ất kh ẩu t ư b ản s ẽ gây ngừng tvệ cho sự phát triển kinh tế vào nướ c. Đối với nước nhập khẩu: Một phương diện, thu hút đượ c tư bản đầu tư, khai thác được các nguồn lực trong nước vào việc phát triển kinh tế giải quyết đượ c một phần tình trạng thiếu công ăn việc làm; góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phân công lao động và quốc tế hoá đời sống kinh tế; tiếp thu đượ c kinh nghiệm và trình độ quản lý hiện đại. Mặt không giống, đối với nước nhập khẩu cũng có nhiều bất lợi: đầu tư không cân đối giữa các ngành, vùng làm giảm tính độc lập về kinh tế của nước nhập khi nước nhập không có chiến l ược kêu gọi và phân vấp ngã đầu tư hợp lý; nguy cơ lệ thuộc vào nước ngoài tăng lên; quốc phòng ­ an ninh yêu cầu đương đầu với đông đảo thách thức mới; nảy sinh các vấn đề chính trị, xã hội phức tạp. Thực chất của xuất khẩu tư bản là sự mở rộng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra nước xung quanh, là công cụ chủ yếu để bành trư ớng sự thống trị của tư bản tài chính ra toàn thế giới. Các nước nhập khẩu tư bản trở thành đối tượng bị bóc lột về kinh tế và nô dịch về chính trị dưới các hình thức và mức độ khác nhau. c) Biểu hi ện m ới c ủa xu ất kh ẩu t ư b ản Ngày nay, d ưới s ự tác động của cách mạng khoa h ọc và công nghệ, của xu thế toàn cầu hoá kinh tế, xu ất kh ẩu t ư b ản đã có sự biến đổ i Khủng. Một là, hướ ng xuất kh ẩu t ư b ản đã có sự thay đổ i cơ bạn dạng. Trướ c đây, luồng tứ bản xuất khẩu ch ủ yếu t ừ các nướ c tư bản phát triển sang các nướ c kém phát triển. Ngày ni, đại bộ phận tư bản xuất kh ẩu đượ c xuất sang nhau giữa các nướ c tư bản phát triển. Tỷ tr ọng xuất kh ẩu t ư b ản gi ữa ba trung tâm bốn bả n công ty nghĩa tăng nkhô cứng, đặc biệt từ Nhật Bản vào Mỹ, Tây Âu và ngượ c lại làm cho luồng xuất khẩu tư bản vào các nướ c đang phát triển giảm mạnh. Hai là, nhà thế xuất khẩu t ư b ản có sự thay đổ i mập, trong đó vai trò củ a những công ty xuyên quốc gia trong xu ất kh ẩu t ư b ản ngày càng to phệ. Mặt không giống, đã xuất hiện nhiều chủ th ể xu ất kh ẩu t ư b ản t ừ các nướ c đang phát triển mà nổ i bậ t là các nướ c NICs ở châu Á. Ba là, hình thức xuất kh ẩu t ư b ản r ất đa dạng. Sự đan xen giữa xuất khẩu tư bản với xuất kh ẩu hàng hoá và sự kết hợp giữa xuất kh ẩu t ư b ản v ới các hoạ t động buôn bán hàng hoá, dịch vụ, ch ất xám tăng lên mạnh mẽ. Bốn là, sự áp đặt mang tính chất thực dân trong xuất kh ẩu t ư b ản có chiề u hướ ng giảm và nguyên tắc cùng có lợi đượ c đề cao. 4. Sự phân chia thị trường thế giới giữa các tổ chức độc quyền a) Nguyên nhân và thực chất của sự phân chia thị trường thế giới Sự phân chia thị trường nạm giới gi ữa các tổ chức độc quyền là do sự phạt triển của bản thân nền kinh tế bốn bản công ty nghĩa. Nền kinh tế bốn bản nhà nghĩa là nền kinh tế hàng hoá, vì vậy thị trường là điều kiện sống còn. Trong giai đoạn đế quốc công ty nghĩa, dưới sự thống trị của độc quyền và tư bản tài thiết yếu, làm cho nền kinh tế có những phát triển to gan lớn mật, do đó, một mặt phải có thị trường nước ngoài để tiêu thụ hàng hoá. Mặt không giống, cần có thị trường để cung cấp nguyên đồ vật, liệu. Vì vậy, cuộc đấu tranh để giành giật thị trường thế gi ới gi ữa các tổ chức độc quyền của các quốc gia trlàm việc nên gay gắt và các cuộc cạnh tranh khốc liệt gi ữa chúng tất yếu dẫn đến xu hướng thoả hiệp, ký kết các hiệp định để củng gắng địa vị độc quyền của chúng trong các lĩnh vực. Từ đó dẫn đến hình thành các liên minh độc quyền quốc tế dưới dạng cácten, xanhđica, tờrớt quốc tế. Thực chất của sự phân chia thế giới về kinh tế là sự phân chia thị trường tiêu thụ hàng hoá, nguyên liệu và đầu tư giữa các tổ chức độc quyền của các nước. Sự hình thành độc quyền quốc tế đánh dấu một giai đoạn mới cao hơn của quá trình tích tụ cùng tập trung tư bạn dạng, vì lúc này quá trình tích tụ và tập trung tư bản đã vượt khỏi biên giới quốc gia mang tính quốc tế. b) Biểu hiện mới của sự phân chia thị trường thế giới Trong giai đoạn hiện nay việc phân chia thị trường có những biểu hiện mới sau đây: Một là, chủ thể phân chia thị trường thế giới không chỉ có các tổ chức độc quyền quốc gia mà bên cạnh đó còn có các nhà nước, quốc gia, dân tộc tứ bản phát triển và đang phát triển. Đồng thời, vai trò của các công ty xuyên quốc gia trong việc phân phân tách thị trường thế giới ngày càng nổi nhảy, trở thành chủ thể chủ yếu trong việc chiếm lĩnh thị trường cầm giới và phân chia nhau kiểm soát hầu hết các thị trường sản phẩm cao cấp cho. Hai là, kết quả của sự phân chia thị trường thế giới giữa các tổ chức độc quyền dẫn đến hình thành các liên minh và khối liên kết khu vực, điển hình là sự hình thành cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) năm 1957 và hiện nay nó đã bước vào giai đoạn lịch sử mới và trngơi nghỉ thành EU (liên minh châu Âu). Ở Tây bán cầu, Mỹ đang xúc tiến Thành lập và hoạt động khối thị trường chung châu Mỹ (dự định hoàn tất vào năm 2010). Tại các khu vực không giống, xuất hiện các liên minh của hàng loạt nước đang phát triển nhằm chống lại sức nghiền của những cường quốc tư bạn dạng nhà nghĩa như Hiệp hội những nước Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á ­ Thái Bình Dương (OPEC), khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA).v.v. 5. Các cường quốc đế quốc phân chia lãnh thổ thế giới a) Thực chất và nguyên nhân Thực chất của sự phân chia chũm giới về mặt lãnh thổ là các nước đế quốc tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược nhằm xâm chiếm các nước và thực hiện công ty nghĩa thực dân, biến các nước đó trở thành thuộc địa của chúng. Sự phân chia thế giới về phương diện kinh tế tất yếu dẫn đến cuộc đấu tranh giữa các cường quốc đế quốc để phân chia cương vực thế giới. Điều đó, xuất phát từ nguyên nhân sau: do sự thống trị của các tổ chức độc quyền làm cho sản xuất tiếp tục phát triển mạnh mẽ, dẫn đến việc đấu tranh để giành giật thị trường thế giới giữa các tổ chức độc quyền của các cường đế quốc trở nên gay gắt. Vì vậy, để củng cố và tăng cường thị trường, các cường quốc đế quốc ra sức xâm chiếm các nước chậm phát triển để làm thuộc địa nhằm độc chiếm thị trường tiêu trúc hàng hoá, nguồn nguyên liệu và nơi đầu bốn tứ bản có lợi và nhằm xây dựng các căn cứ quân sự phục vụ cho mục đích bành trướng xâm lược. b) Quá trình phân chia lãnh thổ thế giới. Quá trình phân chia lãnh thổ thế giới diễn ra rất nhanh chóng, ngay từ năm 1860, đế quốc Anh đã thực hiện các cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa. Tiếp đó là các đế quốc Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật…Đến đầu thế kỷ XX, các nước đế quốc đã hoàn thành việc phân chia lãnh thổ trái đất. Tính đến năm 1914, chỉ riêng 6 nước đế quốc lớn: Anh, Pháp, Nga, Đức, Mỹ, Nhật Bản đã chiếm 65 triệu km2 với dân số 523, 4 triệu fan, trong đó Anh là nước chiếm nhiều thuộc địa nhất (33,5 triệu km2). Song sự phân chia đó diễn ra không đều giữa các nước nên dẫn đến cuộc đấu tranh đòi phân chia lại lãnh thổ trái đất. Đó là nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc chiến tranh nắm giới lần thứ duy nhất 1914 – 1918 và lần thứ hai 1939 – 1945 . K ết qu ả c ủa s ự phân chia và phân chia lại lãnh thổ thế giới dẫn đến sự hình thành hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa toàn thế giới bao gồm hai lo ại n ước: m ột nhóm bé dại các nước đế quốc có sức mạnh kinh tế và quân sự; và phần đông các nước bị áp bức, nô dịch hình thành nên hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. c) Biểu hiện mới của sự phân chia lãnh thổ trong giai đoạn hiện ni. Vào những năm giữa gắng kỷ XX, sự lớn mạnh của phong trào giải phóng dân tộc đã làm sụp đổ hệ thống thuộc địa và theo đó làm phá sản chính sách thực dân cũ của chủ nghĩa đế quốc. Đứng trước thực tế đó, nhằm tiếp tục duy trì sự ảnh hưởng của mình đối với các nước, các cườ ng quốc đế quốc chuyển sang thực thi chính sách thực dân mới, mà nội chủ yếu của nó là dùng viện trợ kinh tế, kỹ thuật, quân sự để duy trì sự lệ thuộc của các nước đang phát triển vào các nướ c đế quốc. Bên cạnh đó, các cường quốc đế quốc còn tiến hành các cuộc chiến tranh nhằm bảo v ệ quy ền l ợi kinh tế của mình tại các khu vực. Cuộc chiến tranh vùng vịnh mới đây do Mỹ và các nước đồng minh tiến hành thực chất là nhằm bảo vệ nguồn lợi dầu mỏ và quyền lợi kinh tế của Mỹ, Anh và các nước đồng minh của chúng tại Trung Đông. Ngày ni, việc phân chia thế giới về chính trị đã có mối quan hệ rất chặt chẽ với sự phân chia thế giới về kinh tế. Do s ự phát triển cao độ của lực lượng sản xuất dưới tác động của cách mạng khoa học – công nghệ, của quá trình toàn cầu hoá khiếp tế được đẩy mạnh và sự đan xen về kinh tế đượ c tăng cường. Cùng với quá trình đó là sự lớn mạnh của lực lượng yêu chuộng hoà bình, tiến cỗ đã tạo ra khả năng hiện thực để ngăn chặn chiến tranh đế quốc mang tính chất nhân loại. Tuy nhiên, những thế lực phản động quốc tế vẫn chưa từ bỏ tham v ọng dùng vũ lực nhằm cai trị thế giới và làm nhiều. Cuộc chạy đua vũ trang dưới mọi hình thức giữa các cường quốc vẫn tiếp tục diễn ra. Chiến tranh lạnh k ết thúc, nguy cơ chiến tranh thế gi ới b ị đẩy lùi, nhưng lại được thay rứa bằng những cuộc chiến tranh th ương m ại, bỏ ra ến tranh s ắc tộc, tôn giáo mà thủ phạm đứng đằng sau các cuộc chiến tranh đó vẫn là các cường quốc đế quốc. Tóm lại, bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền (công ty nghĩa đế quốc)về mặt kinh tế là sự thống trị của độc quyền; về mặt chính trị là xâm lược và nô dịch các nước. Bản chất đó của chủ nghĩa độc quyền được thể hiện thông qua năm đặc điểm kinh tế cơ bản: sự tập trung sản xuất và tư bản đạt tới trình độ cao làm xuất hiện các tổ chức độc quyền có vai trò quyết định trong hoạt động kinh tế; sự dung hợp giữa độc quyền ngân hàng và độc quyền công nghiệp làm xuất hiện tư bản tài chính và đầu sỏ tài chính; việc xuất khẩu tư bản mang một ý nghĩa quan trọng đặc biệt; sự hình thành những liên minh độc quyền quốc tế; các cường quốc chia nhau lãnh thổ thế giới. II. ĐỊA VỊ LỊCH SỬ CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN V.I.Lênin khẳng định, chủ nghĩa tứ bản độc quyền không phải là mộ t hình thái kinh tế ­ xã hội riêng biệt, hay m ột ph ư ơng thức sản xu ất khác với chủ nghĩa t ­ư bản, mà là sự phát triển và kế tục trực tiếp của nh ững đặ c tính cơ bản của chủ nghĩa tư bản nói thông thường. Cố nhiên, công ty nghĩa tư bản chỉ trở thành Chủ nghĩa tứ bản độc quyền khi nó đã đạt tới một trình độ nhất định rất cao. Chủ nghĩa tư mồi nhử n độ c quyền là một giai đoạn đặc biệt của công ty nghĩa t ư phiên bản. Tính đặc biệt đó thể hiện trên các mặt cơ bản như: Chủ nghĩa bốn bản độc quyền là giai đoạn cao của chủ nghĩa bốn bản; Chủ nghĩa tứ bản độc quyền là công ty nghĩa tư bản ăn bám thối nát và phản động; Chủ nghĩa tư bản độc quyền đã và đang tạo tiền đề vật chất cho xã hộ i mới cao hơn, ti ến b ộ h ơn. 1. Chủ nghĩa tư bản độc quyền là giai đoạn cao của chủ nghĩa tư phiên bản. V.I.Lê nin viết: “V ề m ặt kinh t ế điểm cơ bản trong quá trình này là sự độ c quyền bốn bản chủ nghĩa đã thay thế cho sự c ạnh tranh t ự do t ư b ản ch ủ nghĩa”. Lúc các tổ chức độc quyền thống tr ị xã hội tư bản đã thúc đẩy lực lượ ng sản xuất phát triển cực kỳ nhanh chóng. Tính chất xã hội của việc sản xu ất càng đư ợc tăng c­ường với việc xuất kh ẩu t ư bản, với việc thành lập các tổ chức độ c quyền quốc tế và hình thành hệ thống kinh t ế th ế gi ới c ủa ch ủ nghĩa tư bản. Sự phát triển của lực lượ ng sản xuất bi ểu hi ện sinh sống việc xã hội hoá chiêu mộ t cách toàn diện mọi mặt, mọi nhân tố của quá trình sản xuất. Khi l ực l ượng s ản xu ất bi ến đổ i thì quan hệ sản xuất cũng biến đổi theo, tất nhiên là không phải thay đổi một cách căn bản về bản chất mà chỉ thay đổi có tính chất cục bộ cho phù hợp với sự phát triển của lực lượ ng sản xuất. Tr ước đây là sở hữu riêng của từng nhà tư bản, còn nay là slàm việc hữu của tập thể các nhà tứ bản độc quyền, của bọn tư bản tài chính và đầ u sỏ tài thiết yếu. Nhưng cơ chế chiếm hữu bốn nhân bốn bản nhà nghĩa về bốn liệ u sản xuất ko những không mất đi mà tính chất tư h ữu còn sâu sắc hơn. 2. Chủ nghĩa tư bản độc quyền là chủ nghĩa tư bản ăn dính, thối nát và phản đụng Các tổ chức độc quyền và bọn t ư bản tài chính thống tr ị m ọi lĩnh vực của đời sống xã hội, làm cho nhà nghĩa tứ bản mang tính chất ăn bám và thối nát. Điề u đó thể hiện trên các mặt cơ bản sau đây: ­ Xu hướng kìm hãm tiến bộ kỹ thu ật. Nlỗi trên đã trình bày, do sự thao túng của các tổ chức độc quyền mà các vạc minh kỹ thuật cũng nlỗi vấn đề ứng dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất không được chúng quan chổ chính giữa. Điều đó đã làm kìm hãm sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là trong giai đoạn này kỹ thuật bị đình trệ hoàn toàn. Trong từng ngành, từng thời kỳ nhất định, ở những nước nhất định, do động cơ chạy theo lợi nhuận độc quyền cao vẫn là động lực to lớn kích thích sự đổi mới kỹ thuật trong chủ nghĩa tư bản.  Ngày ni, các tổ chức độc quyền bự nghỉ ngơi các n ước tư bản phát triển rất chú ý tổ chức việc nghiên cứu vớt, ứng dụng khoa học và kỹ thuật, nên đã đạt đượ c một sự phát triển rộng rãi và nhanh chóng về từ động hoá sản xuất, kỹ thuật điện tử và sử dụng năng lượng nguyên tử, công nghiệp vũ trụ...Do kia, sau chiến tranh thế gi ới th ứ nhì, nền kinh tế một số nư ớc tứ bản công ty nghĩa phát triển tư ơng đối nkhô cứng. Mặc dù có tình hình như vậy nhưng lý luận của Lênin về xu h ướng đình trệ về kỹ thuật của chủ nghĩa đế quốc vẫn giữ nguyên giá trị. Hiện nay trình độ khoa học kỹ thuật đã phát triển tới trình độ rấ t cao, nh ưng do quan hệ sản xu ất t ư b ản ch ủ nghĩa kìm hãm, bọn tư bản không quản lý nổi lực lượng sản xuất đó, không dùng những phát minh vĩ đại của nhân loại vào mục đích hoà bình tân tiến và lại cần sử dụng vào vấn đề tiếp tế thiết bị giế t ngư ời hàng loạt. Những ngành phát triển nhất ph ần l ớn là những ngành phục vụ kế hoạch quân sự. Hơn nữa những phát minh bắt đầu cũng không được áp dụng đầy đầy đủ. Năm 1955, ở Mỹ có 83.246 đơn xin cấp bằng phát minh đ ược công nhận, nh ưng chỉ có 22.480 số bằng được đưa ra áp dụng vào sản xuất kinh doanh. ­ Số người ăn bám ngày càng tăng. Các nhà tư bản ngày càng mất dần sự liên hệ với quá trình sản xuất. Công việc điều khiển do các nhân viên làm thuê phụ trách nát. Phần l ớn b ọn t ư bản độc quyền trlàm việc thành những kẻ chuyên sống bằng tiền lãi cổ phần và bóc lột các dân tộc khác dựa vào cách cho vay có tính chất nô dịch. ­ Quân sự hoá kinh tế, ch ạy đua vũ trang gây tình hình căng thẳng trên thế giới, phản động về mặt chính trị và tứ tưởng. Ở đâu có sự thống trị của độ c quyền thì ở đó quyền sống của con ng ười, chủ quyền của các dân tộc bị chà đạ p, mọi thứ tự do, dân nhà, bình đẳng kiểu t ư sản cũng đều bị hạn chế và thủ tiêu. Những thuyết tự vị, dân chủ, bình đẳng bắc ái nghỉ ngơi thời kỳ đầ u của chủ nghĩa t ư bản bị thay bằng những lý luận phản động bào chữa cho ách áp bức bóc lột, khủng cha và nô dịch. Chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa quân phiệt, chế độ độ c tài khát tiết...đều là sả n phẩm của ách thống tr ị c ủa t ư bản tài chính. 3. Chủ nghĩa đế quốc đã và đang tạo tiền đề vậ t chất cho sự ra đời một xã hội mới tiến b ộ h ơn. Sự thống trị của bọn độc quyền một mặt thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển, nhờ đó tạo ra hệ thống cơ sở vật chất ngày càng đầy đủ cho sự ra đời của một xã hội mới tiến bộ rộng, cao h ơn. Có thể nói, chủ nghĩa tư bản độc quyền là sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội; mặt khác làm cho mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc đẹp. V.I. Lê nin chỉ rõ, trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, tất cả các mâu thuẫn của chủ nghĩa t ư bản như: mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản; mâu thuẫn giữa một nhóm nhỏ bọn đế quốc với nhân dân các nướ c thuộc địa và phú thuộc; mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc đề u phát triển đến mức gay gắt duy nhất. Chính sự vận động của các mâu thuẫn đó đang thúc đẩy toàn bộ hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới đi vào con đường sụp đổ và tan dã không thể cứu vạn nổi. Chủ nghĩa tư bản nhất định diệt vong, chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi. Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn cuối cùng của công ty nghĩa tư phiên bản, là đêm trước của cách mạng vô sản.

Chuyên mục: Tin tức