Địa Lý Địa Phương Tỉnh Quảng Trị

Năm 2010 dân số tỉnh Quảng Trị có 600.462 người, mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 127 người/km2.

Tỷ lệ tăng dân số trung bình giai đoạn 2000 - 2010 là 1,22%, năm 2010 là 1,14% và có xu thế giảm dần qua các năm.

Hãy phân tích sự tác động của gia tăng dân số tới phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Trị.

 


Bạn đang xem: Địa lý địa phương tỉnh quảng trị

*
*

Xem thêm: The Word " Tượng Nữ Thần Tự Do Tiếng Anh, Tượng Nữ Thần Tự Do In English

Bạn đang xem nội dung tài liệu Địa lí Địa phương tỉnh Quảng Trị (Tài liệu học sinh), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

ường Sơn, một phần lãnh thổ nhỏ mang đặc điểm của khí hậu Tây Trường Sơn. Thời tiết chia làm 2 mùa:Mùa mưa: Từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, với tổng lượng mưa trung bình năm từ 2 000 - 2 800mm và hay có lũ lụt.Mùa khô: Từ tháng 3 đến tháng 7, mưa ít, lượng bốc hơi lớn nên thường xảy ra khô hạn.Từ tháng 10 đến 4 năm sau, thường có gió mùa Đông Bắc mang theo không khí lạnh và thường gây mưa.Nhiệt độ trung bình năm ở Quảng Trị từ 20 - 250C. Độ ẩm không khí cao, trên 75%. Đây là vùng chịu ảnh hưởng khá nặng nề của thiên tai như: bão, mưa lớn gây lũ lụt (tháng 9, 10), gió Tây Nam khô nóng gây hạn hán (tháng 6 - 8), Tại sao Quảng Trị lại có lượng mưa và độ ẩm thuộc loại lớn so với cả nước?Hãy nêu những thuận lợi và khó khăn của khí hậu đối với sản xuất và sinh hoạt ở Quảng Trị.3. Thuỷ vănPhần lớn các sông đều bắt nguồn từ phía đông của dãy Trường Sơn, chảy theo hướng tây - đông, đầu nguồn độ dốc lớn, hạ lưu độ dốc nhỏ, sông chảy quanh co và cửa sông hẹp.Diện tích các lưu vực sông không lớn, lớn nhất là sông Thạch Hãn với diện tích lưu vực khoảng 2800km2. Lớp phủ thực vật ở miền núi của các sông đang bị nghèo đi, dễ gây lũ quét ở vùng núi và ngập úng cho vùng đồng bằng.Chế độ nước sông phụ thuộc chế độ mưa, lượng nước các sông thay đổi và chênh lệch lớn theo mùa trong năm.Hàm lượng phù sa thấp (63,5g/m3). Lượng phù sa thay đổi theo mùa: mùa khô có lượng phù sa thấp và tăng cao vào mùa mưa.Hồ đầm - phá: Phân bổ rải rác hầu khắp ở các vùng và tập trung chủ yếu ở các cửa sông như: Cửa Việt, cửa Ô Giang. Ngoài ao hồ tự nhiên ra phải kể đến ao hồ nhân tạo có được nhờ xây dựng thủy lợi, thủy điện. Tổng diện tích ao hồ trên 7000ha, các hồ chính là: Hồ Thượng Hà (250ha), hồ Kinh Môn (300ha) ở huyện Gio Linh, hồ La Ngà (350ha) ở huyện Vĩnh Linh, hồ Tân Đô (500ha) ở huyện Hướng Hóa, và còn có 10 hồ chứa nước khác sẽ được quy hoạch với diện tích 100 - 600ha.Phân tích ý nghĩa của hệ thống sông ngòi Quảng Trị đối với sản xuất và sinh hoạt. 4. Thổ nhưỡngSự đa dạng của đá mẹ, địa hình và khí hậu, đất Quảng Trị được hình thành khá phức tạp và đa dạng, bao gồm các nhóm đất chính sau đây:Nhóm đất cát biển: Gồm đất cồn cát, cát ven biển và cát nội đồng, diện tích khoảng 34.580ha.Nhóm đất phù sa: Có tổng diện tích 45.380ha, gồm đất phù sa dọc sông, thuận lợi trong việc sản xuất cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày.Nhóm đất nâu đỏ và nâu vàng trên đá bazan: có tổng diện tích khoảng 20.000ha thuận lợi để phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả.Nhóm đất đỏ vàng, vàng đỏ, nâu tím và mùn vàng đỏ, phát triển trên vỏ phong hoá của các đá mẹ khác nhau (granit, biến chất, phiến sét, đá cát, đá vôi...) với tổng diện tích khoảng 332.776ha, thuận lợi để phát triển lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc,...Đất dành cho sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 14,5% đất tự nhiên, trong đó đất trồng cây lâu năm chỉ chiếm 15%. Do đó trong quá trình phát triển kinh tế cần coi trọng công tác qui hoạch đất chuyên dùng, đất thổ cư nhằm hạn chế việc thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến tình hình an ninh lương thực tỉnh nhà.Phân tích ý nghĩa của thổ nhưỡng tỉnh Quảng Trị đối với sản xuất nông nghiệp.5. Thảm thực vậtThảm thực vật Quảng Trị khá đa dạng, là nơi giao thao của 2 luồng thực vật từ Bắc xuống và từ Nam lên, có thể chia ra 3 kiểu chính là: thảm thực vật đai thấp, đai trung bình và thảm thực vật nhân tác.Thảm rừng Quảng Trị có nhiều cây lấy gỗ, cây dược liệu và cây cảnh với một số loài quý hiếm, nhưng cũng đã bị khai thác mạnh. Diện tích rừng năm 2010 đã tăng nhiều so với các năm trước đây, khoảng 203,5 nghìn ha chiếm 40,1% đất tự nhiên, trong đó có 110,4 nghìn ha (23,3%) là rừng tự nhiên và 73,5 nghìn ha là rừng trồng.6. Khoáng sản Tài nguyên khoáng sản đa dạng về chủng loại song trữ lượng không lớn lắm. Theo tài liệu đã công bố năm 2002, ở Quảng Trị có khoảng 118 mỏ khoáng sản và điểm quặng, thuộc các loại khoáng sản kim loại và phi kim loại. Trong đó có giá trị hơn cả là đá vôi xi măng, sét gạch ngói, cát sỏi và đá xây dựng, cát thuỷ tinh, Ti tan, ...Vật liệu xây dựng là loại khoáng sản có trữ lượng khá lớn và phân bố rộng.Khoáng sản phi kim loại: quy mô không lớn, ít có tiềm năng phát triển trên quy mô công nghiệp lớn. Nguyên liệu hiện có là kaolin, quy mô nhỏ nhưng chất lượng cao có khả năng khai thác phục vụ cho công nghiệp gốm sứ và những nhu cầu của địa phương cũng như xuất khẩu. Khoáng sản kim loại chủ yếu đang ở dạng tiềm năng. Khoáng sản kim loại: Ti tan có trữ lượng khoảng 1 triệu tấn, phân bố ở (Vĩnh Linh, Gio linh ), Vàng (Vĩnh Ô - Vĩnh Linh, A Vao - Đa krông), SắtTuy nhiên trong quá trình khai thác và chế biến, cần phải thực hiện quy định trong các điều Luật, trong đó đặc biệt chú trọng Luật môi trường, Luật khoáng sản để không làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của môi trường và cảnh quan thiên nhiên.Nêu ý nghĩa của tài nguyên khoáng sản đối với sự phát triển công nghiệp ở Quảng Trị.7. Hải văn và tài nguyên biểnVùng biển Quảng Trị về mùa đông ngoài khơi có hướng sóng Đông Bắc, sóng cao 0,5 - 1,5m, gần bờ sóng hướng Đông, cao 0,5 - 1,5m. Mùa hè, ven bờ sóng Đông Nam là chính, cao 0,3 - 0,5m còn ngoài khơi sóng Tây Nam và Tây, cao 0,5 - 0,75m.Vùng biển Quảng Trị có chế độ bán nhật triều không đều ở phía bắc và bán nhật triều điển hình ở phía nam.Ở dải nước nông ven bờ (